Kiến trúc xưa của Việt Nam
Nguồn: http://vietnamarchitecture-nguyentienquang.blogspot.com/2014/12/kien-truc-xua-cua-viet-nam.htmlb
Sơn Tây 1
Đền Hát Môn
Tay tiên phất ngọn cờ đào
Sáu mươi thành quách thu vào một tay.
Cờ quân gặp bước không may.
Than ôi sông Hát nước nay là mồ.
Mảnh gương tiết nghĩa chưa mờ.
Muôn thu mặt nước TâyHồ vẫn trong.
― Đền dựng ở cửa sông Hát, nơi ghi dấu tích đậm đà về cuộc khởi nghĩa của Hai bà đánh đuổi Tô định năm 40 thu phục 65 thành.
Qui mô đền ở đây rộng rãi. Chính điện xây kiểu chữ đinh 2 tầng mái, tường hồi bít đốc, phần dưới xây gạch Bát tràng để trần. Trước mặt có xây thêm nhà tiền tế cũng 5 gian tường hồi bít đốc nhưng 1 tầng mái. 3 gian giữa để trống thoáng , 2 gian đầu xây tường trổ cửa trồng gạch hoa. Trong sân trước mặt có xây 2 bàn thờ phụ và dựng 2 nhà tả hữu vu có hàng cột gạch Bát tràng để trần viền cạnh và đầu đắp đấu ngay ngắn và cổng đền làm như 1 căn nhà 3 gian tường hồi bít đốc được xây đắp trang trí những đường bờ, cột trụ cửa sổ thật khéo léo hoa mỹ với cổng phụ mở ra ở tường cánh gà thước thợ xây nhô ra phía trước.
— Le temple Hát Môn.
C'est un grand temple dressé à l'embranchement de la rivière Hat môn et du Fleuve Rouge, endroit historique de soulèvement des deux soeurs Trưng. Le sanctuaire est un bâtiment en T à double toiture qui présente des pignons dont la partie inférieure laisse visibles leurs briques. Le pavillon qui précède a également cinq travées dont trois sont largement ouvertes. Les deux bouts présentent des murs en façade percés de fenêtres en claustras. La cour du temple est bordée de deux pavillons latéraux et un beau portique s'expose en avant.
Cổng đền Hát Môn
― Cổng đền Hát Môn là 1 kiến trúc 3 gian, tường hồi bít đốc với đấu cái, đấu con,và tường kéo dài ra 2 bên. Tường có khung bảng đắp voi chầu rồi 2 bên là cổng phụ uốn vòng cung có mái đắp với 2 cây trụ mở ra ở 2 tường cánh cánh gà thước thợ nhô ra phía trước. Ở cổng chính gian giữa làm lối đi với cánh cổng gỗ lớn. 2 bên là cửa sổ đắp khung lồng chữ thọ, có đắp giá ban thờ bên dưới và khung giá bên trên. Trụ xây ở bên để gạch trần trong khung chỉ đắp cũng là đặc điểm của đền này.
— Le portique est constitué par un pavillon à trois travées et deux entrées secondaires pratiquées à travers des murs latéraux élevés en angle en avance des deux côtés du pavillon. Le mur est décoré d'éléphants en bas relief des deux côtés de l'entrée principale et des pylônes des deux côtés des entrées secondaires.
L'entrée principale est un pavillon à trois travées et à pignons. La travée médiane est une porte largement ouverte. Les travées latérales ont en façade des fenêtres richement décorées.
― Cầu ở gần tỉnh lỵ Sơn Tây.
Cầu quán sàn gỗ, ngói lợp, chân choãi. Lan can lưng dựa dựng trên ghế ngồi.
Cầu gồm 13 nhịp, có cửa cuốn mở ra qua tường đá ong ở 2 đầu cầu. Tường xây cấp tai tượng tuy đơn sơ, biểu lộ đường nét Sơn Tây.
— Un pont couvert près de Sơn Tây.
C'est un pont couvert de tuiles, à charpente et plancher en bois, possédant un siège et un dossier sur les deux côtés.
Le pont a treize travées et présente des entrées en arc plein cintre, ouvertes sur des murs de pignon construit en latérite. Le pignon présente des décors de niches rectangulaires et des proéminences au sommet et sur les bas côtés.
― Đình Tiên Huân -Sơn Tây
Vách đố lụa, 2 tầng mái cong với đường bờ gắn gạch hộp hoa chanh, mái đao đắp diệp hoá long, đầu rồng thành 3 nấc. Đầu đốc đắp hổ phù và 2 bên chân dốc và đầu bờ dốc mái dưới đắp con sấu.
— Le đình de Tiên Huân à Sơn Tây
Le đinh possède une charpente et une cloison en bois, et présente une toiture à deux niveaux qui se relèvent aux angles. Les arêtes sont ajourées, les extrémités des angles se terminent en trois saccades par des feuillages stylisés en dragon. Les bouts de la toiture sont décorés d'un dragon vu d'en face. Les deux extrémités des solives de la deuxième toiture sont décorées de licornes.
― Cầu Ngo - H. Tùng Thiện - T. Sơn Tây
Cầu làm theo kiểu gọi là "thượng gia hạ trì" (trên nhà dưới ao), nhưng đích thực là quán ngói bắc trên sông nên có thể gọi là cầu quán. Những cầu quán này còn thấy bắc ở mấy nơi nữa trên sông Tích giang, gần thị xã Sơn Tây và trong vùng.
Trưa hè oi bức mà gặp được cầu quán này giữa nơi đồng trống mà dừng chân nghỉ mát thì thật là lý tưởng.
— A l'intérieur du pont Ngo - D.Tùng Thiện - P. Sơn Tây
Le pont couvert est le lieu de repos idéal pour les agriculteurs et les passants, aux heures torrides de l'été.
— Chùa Ngọ est une ancienne pagode
La couverture des galeries latérales et postérieures descend si bas que l'on doit baisser la tête pour entrer à l'intérieur. Le clocher, qui surgit de la toiture de la galerie postérieure, est une belle construction en bois, présentant des balcons en appentis sur les quatre colonnes principales et des angles de toiture qui se retroussent gracieusement.
A l'intérieur du bâtiment principal, on découvre de remarquables sculptures sur bois et de belles statues telles que celle de Quan Am tống tử (Avalotikesvara et un bébé)
― Miếu Ngo ( Ngô sơn miếu ) - H. Tùng Thiện - T. Sơn Tây .
Miếu lập ở sườn phía tây nam 1 gò đất rộng, cây cối um tùm, xanh tốt như 1 cánh rừng nhỏ. Phía sau miếu là Ngô sơn tự là 1 ngôi chùa cổ rộng lớn kiến trúc thật thấp cổ kính có nhiều chi tiết đặc sắc.
Miếu thì nhỏ hơn nhiều nhưng kiến trúc cũng rất đáng lưu ý: bình đồ kiểu chữ công. Hậu cung xây tường hồi bít đốc với đấu chỏm, trụ nanh cổ điển. Cửa cuốn đi vào chỉ cao có 1,50m. Tiền bái mái cong vươn như bay trên những cây cột giữ nguyên vẻ thiên nhiên cong queo không cần thẳng nhẵn như những cột bên trong. Sân lát gạch làm thụt xuống ở trước mặt và 2 bên làm tả, hữu vu đầu hồi mở cửa cuốn trông tựa như quán chợ.
Miếu thờ Tản viên sơn thần ghi nơi mà theo truyền thuyết thì Ngài thường hiện ra đi du ngoạn và dừng trú nơi đây được coi là Ngô sơn danh thắng địa.
— Le temple Ngo - P. Sơn Tây
Le temple, bâti sur une colline à l'ombre d'un bosquet, est dédié au génie Tản Viên. On dit que ce dernier s'arrêtait souvent ici pour se reposer .
Le temple n'est pas grand mais a quand même un plan en H. Le pavillon antérieur possède trois travées principales et deux appentis, une toiture de tuile à angles relevés qui sont supportés par des troncs d'arbre torsadé.
Le bâtiment médian présente des murs latéraux. Le sanctuaire, en arrière, est un bâtiment à pignons avec des décors au sommet et des pylônes de maçonnerie sur les deux côtés.
La cour dallée semble s'abaisser devant le temple. Elle est bordée des deux côtés par des pavillons ayant la forme de halles, avec une entrée libre, au pignon surmontée d'un auvent en maçonnerie.
― Văn miếu Sơn tây lập ở làng Mông Phụ. H. Tùng Thiện gần tỉnh lỵ Sơn tây dưới triều Minh Mạng (1820-1840) nên có đường nét kiến trúc triều Nguyễn nhất là toà điện chính: điện Đại thành làm mái trùng thiềm, cột kèo thanh nhỏ và có tô mầu thuốc ngũ sắc lên những ô chạm trang trí sườn nhà.
Những lầu chuông, lầu khánh xây ở hai bên sân, dưới bát giác trên vuông: 4 mái chụm lại nơi chóp đình, vươn cong 4 góc và cổng văn miều xây theo kiểu tam quan thì lại bộc lộ cá tính địa phương giầu tình cảm, giầu sáng kiến.
— Le temple de la littérature de Sơn Tây a été construit dans les environs ouest de la ville, sous le règne de Minh mạng (1820-1840). Il a subi l'influence de l'architecture des Nguyễn, surtout au bâtiment principal de culte. C'est une construction à double toiture, ayant une élégante charpente décorée des panneaux peints de diverses couleurs. Cependant les deux pavillons à étages construits aux sur les deux côtés de la cour principale qui servent de penderie, l'un à la cloche, l'autre au tambour et le portique du temple à trois ouvertures sont des architectures qui soulignent un style local plein d'originalité.
― Đình Phùng Thượng
Là 1 kiến trúc có nhiều nét độc đáo. Đình làm bình đồ chữ công ^ :
Tiền bái hay đại đình chỉ là 1 toà mái rộng lớn nhưng ống muống và hậu cung nhỏ hơn lại làm 2 tầng mái trùng thiềm. Ở đại đình làm sàn gỗ, dưới xây bít trên làm lan can gỗ nhưng kiểu cách khác nhau ở mỗi gian. Những góc nhà tiền tế, hậu cung được xây tường góc khá lớn trổ những ô cửa thông gió theo những hoạ tiết ô cửa lồng nhau thành những dạng góc trang trí khéo léo. Trước mặt tiền tế có xây tường cánh gà bao quanh sân:
Tường bao hai bên và trước sau đình cũng được trang trí bằng những ô trổ lỗ theo những hình dạng khác nhau và cổng nhỏ bên nách đầu đình cũng là 1 tác phẩm xây cất kiểu cách độc đáo;
— Le đình de Phùng Thượng est une construction qui possède des traits originaux. Son plan est en H. La partie antérieure est couverte d'un grand toit et présente des planchers en bois sur pilotis, munis de balustrades sur les bords.
La partie postérieure est couverte d'une double toiture. Les angles des toitures, qui se relèvent, sont supportés par des murs d'angle où des hexagones décoratifs ont été creusés. Des murs d'angle bordent également les deux côtés du bâtiment principal.
Le mur de clôture est agrémenté par des panneaux perforés de diverses manières et le petit porche latéral qui s'y trouve est une belle et originale construction.
Làng Phùng Thượng. H.Phúc Thọ. T.Sơn Tây
― Voi ngựa đá làng Phùng Thượng. H.Phúc Thọ. T.Sơn Tây
Bên dia làng Phùng Thượng còn những voi ngựa đá nằm đứng chầu 2 bên 1 hồ nước chữ nhật là di tích 1 chiến công của Lê Trung Hưng thắng nhà Mạc ở đây ( T.K 16 )
― Vestiges historiques au village Phùng Thượng. P.Sơn Tây.
Les chevaux et les éléphants de pierre qui se trouvent des deux côtés de l'étang rectangulaire au voisinage du village de Phùng Thượng sont les vestiges historiques qui commémorent la victoire des Lê Trịnh sur les Mạc au 16e siècle.
Sơn tây 3
― Đình Đông Lâu. H. Bất Bạt. T. Sơn Tây.
Đình dựng trên sườn đồi. Lối đi chính vào là 1 bố cục 4 cây trụ lồng đèn 2 thấp rồi 2 cao được nối với
nhau bằng 2 vách tường đắp voi chầu. Hai bên cách 1 đoạn tường hoa là lối đi phụ chui qua cổng nhỏ để dẫn lên những dẫy tảo mạc xây theo 2 cấp sân.
Gần sau tường hoa giữa lối đi chính và lối đi phụ có xây 2 lầu chuông lầu trống. Đặc điểm nữa ở đây là đầu hồi những nhà tả hữu vu có mở cửa đi ở dưới, cửa thông gió ở trên và làm 2 tầng mái góc vươn cao vút lên trời.
― Le đinh est construit sur la pente d'une colline.
L'entrée principale est constituée de quatre pylônes, reliés par des pans de mur décorés d'un éléphant agenouillé en bas relief. Deux petits portiques, servant d'entrées secondaires, conduisent à deux rangées de pavillons latéraux bordant deux niveaux de cours dallés. Derrière le mur de clôture, entre les entrées, s'élèvent des pavillons où l'on garde le tambour et la cloche. Ce qui est spécial ici est le fait que les pignons des pavillons secondaires ont deux niveaux d'ouverture servant d'entrée en bas et de fenêtre lucarne en haut.
― Đình Cổ Đô. H. Bất Bạt . T. Sơn Tây;
Đình làm kiểu chữ công. Đại đình sàn gỗ. và hậu cung vách ván đố lụa. Dưới góc đao xây tường góc cắt nấc cả trên lẫn dưới là đặc điểm của miền Sơn Tây thượng là Bất Bạt, Quảng Oai, Tùng Thiện.
― C'est un đinh au plan en H. Il possède un plancher sur pilotis dans le grand bâtiment antérieur et des cloisons de bois dans les autres parties du đinh. Des murs d'angle supportent les angles des toitures avec saillies coupées en redans, en haut et en bas. C'est un trait caractéristique de l'architecture de Sơn Tây.
― Cổng đền Cổ Đô. Làng Cổ đô. H. Tân Phong. T. Sơn Tây;
Đền thờ 1 công thần đời vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) có công dẹp loạn Dương Nhật Lễ. Vị công thần này nguyên họ Đỗ, sau cải sang họ Nguyễn, tục danh Nghĩa.
Đền cũng là lăng mộ lập trên một quả đồi cây cối xum xuê, trước mặt liền mặt đê nhìn ra Ngã Ba Hạc, cảnh trí phong quang, sông nước bát ngát, xa xa là núi Hùng ở về phía Tây Bắc.
Đền xây bằng gạch, nhỏ bé như một cái am, miếu ; bên trong có tượng Nguyễn tướng quân, đục chạm thô sơ, tương truyền tạc trên 1 hòn đá mọc. Cổng đền trái lại là 1 công trình kiến trúc khá đồ sộ và đặc sắc, tương truyền được các cụ người làng ngày xưa làm quan trong triều đã lấy kiểu cung, phủ về xây.
Cổng làm kiểu tam quan, khoang giữa cao hơn 2 bên. Cả ba đều làm 2 tầng mái chồng diêm, tường hồi bít đốc, dưới ngưỡng có những con sấu đá dùng làm cối cửa đỡ cánh cổng; những diềm mái chạm thủng hình ô chám ken mặt rồng ngang cùng những mảnh chạm gắn trong những ô chữ nhật nằm bên trên các cửa đều được gia công một cách tinh vi, khéo léo. Hai bên xây tường cánh gà ôm bọc 1 thềm nền cao dài , có điểm những cây trụ ở đầu hồi và cạnh góc đầu tường cánh gà, tất cả đều xây đắp gọn gàng ngay ngắn, ít nơi sánh kịp. Cổng này bị phá dở dang hồi năm 1952 do đoàn quân viễn chinh Pháp đóng gần đó. Hình này đã căn cứ theo ảnh chụp năm 1952 và theo1 tấm tranh của dân làng để phục nguyên lại quang cảnh trước đó.
Làng Cổ Đô là 1 làng lớn giầu thịnh nhờ có nghề dệt lụa nổi tiếng và 1 làng văn học, có nhiều người đỗ đạt khoa bảng, làm quan trong triều như thượng thư Nguyễn Bá lân (1700-1785) . Có lẽ ông này đã sao chép 1 kiểu cổng cung điện và đem thợ ở kinh đô Thăng Long về xây ở nghè miếu làng, nên ở trước một miếu thờ nhỏ bé này mà có một cổng tam quan kiểu cách uy nghi đường bệ có chi tiết đắp nặn độc đáo , gờ chỉ rất ngay ngắn và chạm đục rất tinh tế xứng đáng với nghè, cây cối um tùm xanh tốt.
― Cổ Đô est un village florissant grâce au tissage de la soie. C'est également le village d'érudits célèbres qui ont travaillé à la cour, tel que Nguyễn Bá Lân. Ce dernier s'est inspiré d'un modèle de portique de la cour royale pour faire construire un portique de temple analogue dans son village, dédié à Đỗ Nghĩa qui a combattu les rebelles en 1370 - 72. C'est un portique monumental au style original et aux détails bien modelés tandis que le temple lui même est très petit et qui se trouve au fond du mamelon.
― Nhà thờ Hoàng Xá - T. Hưng Hoá .
Nhà thờ này xây cất theo kỹ thuật và kiểu cách kiến trúc cổ truyền Việt Nam: là sườn , cửa vách gỗ, mái ngói mũi hài, uốn cong ở các góc, xây cột đỡ các góc đao, trang trí trên đường bờ nóc và đường bờ góc đao bằng những hình đắp lá lật ở đây vươn lên thật cao.
Ảnh hưởng kiến trúc các nhà thờ Tây phương ở đây là nền cao, thớ dọc, lầu nhô lên ở mặt tiền và cây thập tự giá cắm trên nóc lầu chuông.
― Cette église est construite d'après la technique et le style de l'architecture classique du Viêt-nam: La charpente, les battants des portes et les cloisons sont en bois. Les toitures sont couvertes de tuiles en écaille et se retroussent aux angles. Ces angles de toiture sont soutenus par des colonnes d'angle. Les arêtiers sont décorés, aux extrémités, de modelages de feuilles qui s'incurvent en hauteur.
L'influence de l'architecture religieuse occidentale se voit ici par la hauteur du soubassement, par la disposition de l'autel en profondeur et par le clocher en façade surmonté d'une croix.
― Đình Hương Canh - T. Vĩnh Yên.
Hương Canh là làng sản xuất đồ gốm : chum vại, chén, bát đĩa. Chợ họp ở bên đình.
Đình có sân trước, sân trong. Giữa 2 sân xây 6 cây trụ, tường khung bảng và cổng phụ phân cách thành 3 lối đi. Lối đi chính rộng thoáng ở giữa 2 cây trụ lớn. Tiếp đến tường khung bảng đắp voi chầu và trụ thứ nhì. Cổng phụ là cửa vòm có mái xây giữa trụ thứ nhì và trụ thứ 3.
Toàn thể khu cổng này được đắp nặn trang trí công phu hoa mỹ.
Toà đại bái đình có tường xây bọc quanh trổ cửa sổ chồng gạch, phía trước có nhà phương đình làm nhô ra sân. Nhà phương đình làm 2 mái cong chồng diêm nhưng đặc biệt ở đây là phần sau mái dưới gắn liền vào mái đại đình.
― Le đình de Hương Canh. P. Vĩnh Yên.
Hương Canh est un village producteur des céramiques: vases, poteries, vaisselles. Le marché du village se tient à côté du đình.
Il y a deux cours devant le đình. Il y a des portiques de passage entre ces cours qui sont constitués par des pylônes, des portes reliés par des pans de murs décorés de moulures, d'éléphants en haut relief et de divers ornements. La grande salle de réunion du đình est environnée de murs de briques munis de fenêtres à claire voie. Elle est précédée d'un kiosque à double toiture mais la 2e toiture s'engage dans la toiture de la salle de réunion. C'est 1 trait particulier dans l'architecture de ce đình.
― Thần Tiên tự ( Chùa Cói )
Chùa Cói là 1 ngôi chùa cổ được lập ra từ triều Lý (T.K 11-13)
Toà thượng điện được làm lại từ thời Mạc (T.K 15) nhưng có phong cách thời Trần. Trên mái toà tiền đường được làm nhô lên 3 gian , toà mái thứ nhì cũng là điều hiếm thấy ở các chùa khác. Hai bên sân trước chùa xây 2 ngọn tháp vuông 7 tầng, đỉnh ngọn là mái khum 2 tầng.
Hai tháp này là vật cung tiến của Quận He nguyễn Danh Phưong. Khi ông làm lãnh chúa vùng này . Vì dựng trên sườn đồi nên với thời gian, 2 tháp bị lún nghiêng vì vậy nên chùa có thêm tục danh là chùa Tháp nghiêng.
Đặc điểm kiến trúc của 2 tháp: Ở 2 tháp này đường nét vuông thành sắc cạnh chiếm đa số. Các tầng cách nhau bằng những gờ thẳng, các khung ô cửa sổ cũng vuông ở 4 tầng trên 7, 3 cửa trên cùng làm vòm uốn.
Đến tầng thứ 7 mới xây nóc vòm khum 2 tầng để làm ngọn tháp. Khoảng năm 1938 trường Viễn Đông Bác Cổ rỡ 2 tháp ra thì thấy ở mặt tường bên trong có vẽ hình Phật ngồi trên toà sen.
― La pagode Cói est une ancienne pagode fondée sous les Ly (11e au 13e siècle)
Le pavillon du sanctuaire a été reconstruit sous les Mạc au 15 siècle mais garde le style des Trân (13-14e siècle)
Sur la toiture du 2e bâtiment surgit une deuxième toiture sur trois travées. C'est un cas assez spécial.
Devant la pagode s'élèvent deux tours carrées à sept étages dont le dernier se couvre d'une toiture curviligne à double niveau.
Ces tours sont des constructions offertes par Quân He Nguyễn Danh Phương lorsqu'il fut le chef révolutionnaire de cette région, au milieu du 18e siècle. Construites sur la pente d'une colline, les deux tours sont penchées. Elles ont dủ être démolies en 1937. On y a découvert une image de Bouddha assis sur le lotus, peint sur les murs intérieurs.
― Bến đò Bạch Hạc
Gần nơi bước xuống bến đò là chợ Bạch Hạc với những quán tranh quán ngói và có 1 phương đình hay gác chuông với 2 từng mái, 8 góc mái vươn cong dưới những vòm lá xum xuê.
― Débarcadère à Bạch Hạc.
Un marché est installé sur le débarcadère de Bạch Hạc, dans des pavillons de paille et de tuiles qui servent d'abris. On trouve ici un pavillon à double toiture avec huit angles qui s'incurvent, parmi les diverses voủtes des feuillages verts.
― Một cổng đền ở Phú Thọ.
Đền dựng ngay trên bờ sông Nhị. Cổng đền tương đối mới (hồi đàu T.K. 20)
Kiến trúc khá nguy nga với 2 cây trụ lồng đèn, 1 lầu gác xây bên trên đài cổng. Xa xa là bóng núi
Hùng. Cây trụ phát triển từ đơn sơ trơn nhẵn, đến đây là hoa mỹ tối đa với nét đắp nặn trong lồng đèn, hổ phù trên 4 mặt bồ đài (mái lồng đèn), rồi chóp dành dành (ở đây là 4 con phượng)
― Portique d'un temple à Phu Tho
Le temple est construit sur le bord du Fleuve Rouge. Le portique est récent, il a été construit au début du 20e siècle. L'architecture est assez monumentale avec ses pylônes et son portique à étage. Ici, les pylônes arrivent à leur dernier stade de décoration.
― Đền Xuân Lủng - T. Phú Thọ
Đặc biệt là tả hữu vu đều làm 2 tầng mái đầu hồi bít đốc, xây gạch để trần, dưới mở cửa xây vành cuốn tròn, trên đắp hổ phù mắt trợn, trán nhô, 2 chân khuỳnh ra đạp mây. Nhưng tả hữu 2 bên kiểu khác nhau, kể cả cây trụ xây kế bên. Bên hữu là tầu ngựa, bên tả là tầu voi. Đầu hồi tầu voi đã được toà nhà Đông dương đại học xá ở Paris mượn kiểu để trang trí 1 đầu hồi của toà nhà.
― Le temple Xuân Lủng
Nous devons remarquer que les pavillons latéraux possèdent une double toiture et des murs à pignons aux briques visibles. Les pignons sont percés d'ouverture à arcade plein cintre. Le haut des pignons est décoré d'une tête de dragon en bas relief, vue d'en face. Le dragon a l'air menaçant, ses yeux sont grand ouverts, il a un front saillant, et des pattes qui s'écartent en s'appuyant sur des flocons de nuage.
Les deux pavillons diffèrent l'un de l'autre par la silhouette de leur pignon et par leur destination. Le pavillon de droite sert d'abri au cheval et celui de gauche à l'éléphant. Le pignon de gauche a servi de modèle à la décoration d'un pignon du pavillon d'Indochine à la cité universitaire de Paris.
― Chùa Phù Lỗ : Phù Lỗ - H. Kim Anh - T. Phúc Yên
Đây là một cảnh chùa cổ điển : nội công, ngoại quốc, lại thêm gác chuông trên mái nhà hậu là kiểu khá phổ thông về thế kỷ 17 thời Lê Trịnh.
― Une pagode ancienne à Phù Lỗ - D. Kim Anh - P.Phúc Yên
C'est une pagode au plan classique H, inscrit dans un rectangle avec un clocher qui surgit sur la toiture du pavillon postérieur, conception d' architecture assez répandue au 17e siècle.
― Đền Sóc Sơn - Xã Vệ Linh - H.Đa Phúc - T.Phúc Yên.
Đền dựng ở trong 1 thung lũng dưới chân 1 ngọn núi xã Vệ Linh, tương truyền là nơi Phù Đổng thiên vương, sau khi phá tan giặc Ân thì phi ngựa đến đây, cởi bỏ mũ áo rồi lên núi bay lên trời.
Ở đây dựng 2 ngôi đền, đền ngoài làm mái trùng thiềm có gắn chấn song con tiện. Đền này tương đối mới, xây lại khoảng đầu T.K 20 thời suy thoái của kiến trúc cổ truyền, nặng phần trang trí diêm dúa, trông mảnh mai, kém tinh vi; nhưng ở đây cảnh trí rừng núi tú lệ nên đền vẫn có một vẻ đẹp đáng lưu ý.
― Le temple est érigé dans un vallon, au pied d'un monticule, d'où, d'après la légende, le génie de Phù Đong s'est envolé au ciel, après avoir anéantir les agresseurs Ân. Il s'y trouve deux sanctuaires. Celui évoqué dans ce dessin relativement nouveau a été reconstruit au début du 20e siècle.
― Cổ Loa : Đình Xóm Giếng - Giếng Xóm Giếng
Giếng khơi đầu đình.. miệng xây đá Thanh và có miều thờ thần giếng trong vòng những mảnh tường bao quanh giếng.
Cổng dựng ở gần giếng là cổng xóm mà cũng là cổng nách của đình, kiểu cách cổ điển quen thuộc và xinh sắn của thôn quê Việt Nam.
Được đăng bởi NguyenTienQuang vào lúc 23:16





















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét